Đã bao năm trôi qua, nhưng hình ảnh bếp lửa ấm áp trong chái bếp đơn sơ nơi quê nhà yêu dấu luôn đậm sâu trong ký ức tôi.

Ngày trước, người dân quê tôi thường dùng rơm khô, củi khô để đun nấu phục vụ sinh hoạt hằng ngày. Những cành củi to, chắc, cháy đượm sẽ được để dành nấu bánh chưng ngày Tết hoặc mỗi khi nhà có cỗ phục vụ công to, việc lớn… Gắn liền với những căn bếp nhỏ là hình ảnh lam lũ, tảo tần của các bà, các mẹ. Bao năm thành quen, những người phụ nữ ấy thường bắt đầu một ngày mới từ lúc trời còn tờ mờ tối.
Bà nội tôi, mẹ tôi cũng thế, đều giữ thói quen dậy sớm khi bên ngoài còn chưa tỏ mặt người, chỉ văng vẳng vài tiếng gà gáy sáng. Trở dậy, việc đầu tiên của bà và mẹ là vào bếp nhen lửa đun nước. Trời mới mờ mờ sáng, không gian còn yên ắng, nơi chái bếp nhỏ, cùng với tiếng nổ tí tách của than củi, mùi thơm nồng nồng của rơm khô nỏ là ánh lửa hồng cháy bập bùng, bừng sáng cả căn bếp nhỏ. Ánh lửa hồng soi tỏ gương mặt hiền hậu, nhiều nếp nhăn của bà, nhiều lo toan, vất vả của mẹ. Lửa hồng soi rõ những nồi, niêu, xoong, chảo được treo ngay ngắn trên bức tường đã ngả màu sau nhiều ngày ám khói. Những chiếc nồi đen bóng lớp nhọ than là thứ đồ gắn với những trò chơi trẻ con mà ai thua sẽ bị quẹt nhọ nồi lên mặt. Hình ảnh đám trẻ với khuôn mặt đen nhẻm bởi những vệt than muội, tít đôi mắt cười thích thú theo tôi đến tận bây giờ…
Trong ánh sáng của lửa hồng soi, ở căn bếp nhỏ còn có lọ mẻ ngấu nhuyễn, vại dưa cải muối vàng, chiếc giỏ nhỏ xinh bà dùng đựng các loại gia vị: gừng, hành, tỏi, ớt… Và trên gác bếp là một vài chiếc mo cau khô bố cất để Tết đến gói giò mỡ…
Trời dần rạng. Khi mọi người trong nhà thức dậy, bà đã có sẵn phích nước nóng để ông pha trà; mẹ có nồi khoai luộc nóng hổi hoặc chõ xôi lạc thơm nức… cho cả nhà ăn trước khi đi làm, đi học.
Ngày còn bé, mỗi lần đi học về bao giờ tôi cũng ghé qua chái bếp trước tiên và thấy trong lòng thật ấm áp khi thấy bà, thấy mẹ đang lúi húi nấu cơm. Trong lúc chờ cơm chín, bà cời than hồng, vùi vào đó mấy củ khoai để mấy đứa cháu có cái ăn đỡ đói bụng. Bóc lớp vỏ ngoài cháy đen, bên trong khoai chín bở thơm lừng, ăn vừa bùi vừa ngọt, đứa nào cũng suýt xoa, tấm tắc khen ngon…
Bố đi làm đồng về cũng ghé vào bếp hơ hơ đôi tay đen sạm, lạnh cóng đầy vết chai sần. Ánh lửa hồng soi rõ gương mặt hằn nét lam lũ, vất vả nhưng cương trực, vững vàng của bố… Vui nhất là khi Tết đến, bọn trẻ xúm xít bên bếp lửa hồng trông nồi bánh chưng và nghe bà kể những chuyện ngày xửa, ngày xưa… Thời gian cứ chậm rãi trôi, nơi chái bếp nhỏ bình dị, thân thương đã có biết bao bữa cơm sum vầy rồi chia xa; chia xa rồi lại sum vầy trong niềm vui, nỗi buồn, thương yêu và chia sẻ.
Giờ đây, làng quê đã đổi mới từng ngày. Cảnh quê tôi cũng có nhiều thay đổi. Những chái bếp nhỏ, đơn sơ xưa giờ được thay bằng những căn bếp xây rộng rãi, kiên cố, tiện nghi. Bếp ga, bếp điện đã thay bếp củi, bếp than… Rơm được làm nguyên liệu trồng nấm, không còn được đánh thành cây to để đun bếp dần. Cuộc sống đổi thay là tất yếu. Và chúng tôi cũng yêu thích, hướng đến những tiện nghi và sự hiện đại. Nhưng mỗi khi đông về, trong cái lạnh buốt giá, tôi lại nhớ những ngày thơ bé, được quây quần, trò chuyện vui vẻ bên bếp lửa hồng trong gian bếp nhỏ ấm áp, mặc ngoài kia, mưa phùn, gió bấc mải miết thổi, mải miết rơi…
Phạm Hiền